Suy thận mạn là hậu quả của những bệnh thận mãn tính

Thảo luận trong 'Sức khỏe - Y tế' bắt đầu bởi pvdung13, 9/5/18.

  1. pvdung13

    pvdung13 Member

    Suy thận mạn là hậu quả của những bệnh thận mạn tính của thận ứ nước gây giảm sút trong khoảng từ số lượng nephron chức năng làm cho giảm dần mức lọc cầu thận.
    khi mức lọc cầu thận giàm xuống dưới 50% (60ml/phút) so mang mức thường nhật (120ml/phút) thì được xem là sở hữu suy thận mạn.
    Suy thận mạn là 1 hội chứng diễn biến theo từng giai đoạn: trong thời kỳ sớm, lâm sàng chỉ có một số triệu chứng rất kín đáo, trái lại vào giai đoạn cuối trình bày rầm rộ sở hữu hội chứng nâng cao urê máu. Quá trình diễn biến của suy thận mạn với thể kéo dài trong khoảng phổ quát tháng tới phổ biến năm.
    Dich tễ học
    Xác định tỷ lệ mới mắc, mắc bệnh suy thận mạn là một vấn đề cạnh tranh bởi trong suy thận mạn công đoạn đầu người bệnh thường ít đi khám bệnh vì ít hoặc không có triệu chứng lâm sàng. Suy thận mạn trước thời kỳ cuối ít được biết rỏ vì ko có đăng ký và không được theo dõi, nhưng tỷ lệ mới mắc suy thận mạn thời kỳ cuối cần được điều trị thay thế thận suy thì người ta sở hữu thể biết được 1 cách thức xác thực. Theo Thống kê ở Pháp tỷ lệ mới mắc suy thận mạn thời kỳ cuối là 120 trường hợp/ một triệu dân/ năm. Ở Mỹ và Nhật là 300 trường hợp / một triệu dân / năm (số liệu năm 2003).
    Tỷ lệ mắc bệnh suy thận mạn với khuynh hướng gia nâng cao theo thời gian và khác nhau giữa nước này và nước khác.
    Suy thận mạn là 1 bệnh lý xảy ra chính yếu ở người lớn. Con số của Pháp trong số 70 bệnh nhân mới mắc suy thận mạn công đoạn cuối thì chỉ có 5 bệnh nhân là trẻ thơ và bạn trẻ, và 65 bệnh nhân là người to. Suy thận mạn cũng mang liên quan với nam nữ, nam mắc bệnh hơn nữ 2 lần (2/1). Độ tuổi trung bình của số bệnh nhân mới khởi đầu điều trị suy thận mạn thời kỳ cuối tăng dần: năm 1987 là 55 tuổi, năm 1998 là 61 tuổi.
    nguyên do
    gần như các bệnh lý thận mạn tính dù khởi phát là bệnh cầu thận, bệnh ống kẻ thận hay bệnh mạch thận đều mang thể dẫn tới suy thận mạn.
    Bệnh viêm cầu thận mạn
    Thường hay gặp nhất, chiếm tỷ lệ 40%.
    Viêm cầu thận mạn ở đây với thể là nguyên phát hay thứ phát sau các bệnh toàn thận như lupus ban đỏ hệ thống, đái đường, ban xuất huyết dạng phải chăng.
    Bệnh viêm thận bể thận mạn
    Chiếm tỷ lệ khoảng 30%.
    Cần lưu ý: viêm thận bể thận mạn trên bệnh nhân có sỏi thận tiết niệu là nguồn cội thường gặp ở Việt Nam.
    Bệnh viêm thận kẽ
    Thường do dùng những thuốc giảm đau trong khoảng thời gian dài như Phénylbutazone, do nâng cao acid uric máu, nâng cao calci máu.
    Bệnh mạch thận
    Xơ mạch thận lành tính hoặc ác tính.
    Huyết khối vi mạch thận.
    Viêm quanh động mạch dạng nút.
    Tắc tĩnh mạch thận.
    Bệnh thận bẩm sinh do di truyền hoặc không di truyền
    Thận đa nang.
    loạn sản thận.
    Hội chứng Alport.
    Bệnh thận chuyển hóa (Cystinose, Oxalose).
    Bệnh hệ thống, chuyển hoá
    Đái dỡ tuyến đường.
    những bệnh lý tạo keo: Lupus.
    bây giờ cội nguồn chính gây suy thận mạn ở những nước vững mạnh chính yếu là các bệnh chuyển hoá và huyết quản thận (Đái tháo dỡ đường, bệnh lý huyết mạch thận) khi mà các nước đang tăng trưởng đội ngũ nguyên cớ do vi trùng, sỏi thận tiết niệu vẫn còn chiếm với tỷ lệ cao
    Cơ chế bệnh sinh
    Cơ chế sinh bệnh của suy thận mạn được giải thích trên cơ sở vật chất lý luận của thuyết nephron nguyên vẹn: mặc dầu tổn thương khởi phát ở cầu thận, mạch máu thận, công ty ống kẽ thận thì các nephron bị thương tổn nặng cũng thường bị cái trừ khỏi vai trò chức năng sinh lý. Chức năng của thận chỉ còn được đảm nhiệm bởi những nephron vẹn nguyên còn lại, khi số nephron nguyên vẹn còn lại này không đủ để đảm bảo chức năng của thận là duy trì sự hằng định của nội môi thì sẽ xuất hiện các rối loạn về nước điện giải, về tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh tạo nên hội chứng suy thận mạn.
    Lâm sàng và cận lâm sàng
    Lâm sàng
    Phù:
    Tùy thuộc vào cỗi nguồn gây suy thận mạn mà bệnh nhân sở hữu thể mang phù đa dạng, phù ít hoặc không phù. Suy thận mạn do viêm thận bể mạn thường không phù trong thời kỳ đầu, chỉ với phù trong công đoạn cuối. Trong khi suy thận mạn do viêm cầu thận mạn phù là triệu chứng thường gặp. Bất kỳ duyên cớ nào, lúc suy thận mạn thời kỳ cuối, phù là triệu chứng hằng định.
    Thiếu máu:
    Thường gặp nặng hay nhẹ tùy quá trình, suy thận càng nặng thiếu máu càng phổ quát.
    Đây là triệu chứng quan yếu để phân biệt có suy thận cấp.
    nâng cao huyết áp:
    Khoảng 80% bệnh nhân suy thận mạn với nâng cao huyết áp, cần lưu ý mang từng đợt tăng huyết áp ác tính làm cho chức năng thận suy sụp nhanh chóng gây tử vong nhanh.
    Suy tim:
    lúc có suy tim xuất hiện thì mang nghĩa là suy thận mạn đã muộn, suy tim là do tình trạng giữ muối, giữ nước, nâng cao huyết áp lâu ngày và do thiếu máu.
    Rối loạn tiêu hóa:
    Trong giai đoạn sớm thường là chán ăn, ở thời kỳ III trở đi thì với buồn nôn, ỉa chảy, mang khi xuất huyết tiêu hóa.
    Xuất huyết:
    Chảy máu mũi, chân răng, dưới da là thường gặp. Xuất huyết tiêu hóa ví như có thì rất nặng làm cho urê máu, Kali máu nâng cao lên nhanh.
    Viêm màng ngoài tim:
    Là một biểu đạt trong quá trình cuối của suy thận mạn sở hữu triệu chứng kinh điển là tiếng cọ màng ngoài tim, đây là triệu chứng báo hiệu tử vong ví như không được điều trị lọc máu kịp thời.
    Ngứa:
    Là biểu đạt ngoài da gặp trong suy thận mạn ở thời kỳ có cường tuyến cận giáp thứ phát với sự lắng đọng Canxi ở đơn vị dưới da.
    Chuột rút:
    Thường xuất hiện ban đêm, với thể là do giảm Natri, giảm Calci máu.
    Hôn mê:
    Hôn mê do nâng cao urê máu cao là bộc lộ lâm sàng ở công đoạn cuối của suy thận mạn. Bệnh nhân mang thể mang co giật, rối loàn tâm thần ở giai đoạn tiền hôn mê. Đặc điểm của hôn mê do tăng Urê máu mạn là ko với triệu chứng tâm thần khu trú.
    Trên đây là những diễn đạt lâm sàng chung của suy thận mạn. Không những thế tuỳ theo nguyên cớ dẫn tới suy thận mạn ở mỗi bệnh nhân mà mang nhừng triệu chứng tương ứng như thận lớn trong bệnh thận đa nang, thận ứ nước,...
    Cận lâm sàng
    tăng urê máu, créatinine máu.
    Giảm hệ số thanh thải créatinine.
    Kali máu: kali máu sở hữu thể thường nhật hoặc giảm. Khi Kali máu cao là với bộc lộ đợt cấp có kèm thiểu niệu hoặc vô niệu.
    Calci máu, phospho máu: trong quá trình đầu calci máu giảm, phospho máu nâng cao. Trong giai đoạn đã có cường tuyến cận giáp thứ phát thì cả calci máu và phospho máu đều tăng.
    Nước tiểu:
    Protein niệu: tùy thuộc vào nguồn gốc, khi suy thận quá trình III, IV thì luôn với protein niệu nhưng không cao.
    hồng huyết cầu, bạch cầu: tùy thuộc khởi thủy gây suy thận mạn.
    Chẩn đoán
    Chẩn đoán xác định
    tín hiệu của Suy thận:
    nâng cao urê, créatinine máu.
    Mức lọc cầu thận giảm.
    thuộc tính mạn của suy thận:
    Tiêu chuẩn tiền sử: mang tiền sử bệnh thận, trước đây đã sở hữu tăng créatinine máu.
    Tiêu chuẩn về hình thái: Kích thước thận giảm (chiều cao < 10cm trên siêu thanh, < 3 đốt sống trên phim chụp thận ko chuẩn bị).


    Read more: https://kenhyhoc.com/suy-man-la-gi-dau-hieu-canh-bao-va-cach-dieu-tri/
     

Chia sẻ trang này